Nhà sản xuất máy móc dệt may chuyên dụng cho sợi đặc biệt

Máy dệt sợi chenille, Máy xoắn giả, Máy tách sợi, Máy cuộn sợi, Giải pháp về sợi

Sunny:+8613567545633

Addie:+8615158268930

Tin tức

Tối ưu hóa các thông số quy trình của máy tách sợi và máy xoắn giả dựa trên phản hồi từ quá trình dệt sau

Tối ưu hóa các thông số quy trình của máy tách sợi và máy xoắn giả dựa trên phản hồi từ quá trình dệt sau

 

Mở đầu (≤50 từ): Phản hồi từ quá trình dệt sau định hướng việc điều chỉnh quy trình xử lý sợi ở giai đoạn đầu; 60 % lỗi vải có nguồn gốc từ các khuyết tật tiềm ẩn không thể nhìn thấy trong quá trình xử lý sợi.

 

Kết luận: Giá trị xoắn dư của sợi thành phẩm từ máy tách sợi phải được kiểm soát trong khoảng 18–32 t/m để đảm bảo quá trình tháo cuộn trong dệt sau diễn ra trơn tru. Dữ liệu: Chỉ số xoắn dư 18–32 t/m; xoắn dư vượt ngưỡng gây ra 29% khuyết tật xoắn nút sợi trên khung dệt. Giải thích: Độ xoắn dư không phù hợp sẽ khiến sợi tự xoắn trong quá trình tháo cuộn và làm gián đoạn nhịp điệu liên tục của quy trình dệt.

 

Kết luận: Tỷ lệ co rút không đều của sợi xoắn sai phải ≤4,1 % trước khi giao đến xưởng dệt; chỉ số vượt ngưỡng gây ra khuyết tật vết sọc trên vải. Dữ liệu: Tỷ lệ co rút không đều ≤4,1 %; 35 % khiếu nại về vết sọc trên vải có liên quan đến sự không đều của độ co rút vượt quá giới hạn cho phép. Giải thích: Sự chênh lệch về độ co rút do nhiệt giữa các sợi tạo thành các sọc độ dày định kỳ trên bề mặt vải thô sau khi dệt.

 

Kết luận: Chỉ số độ xù (H) của sợi chenille phải duy trì trong khoảng 3,4–4,8 để đảm bảo khả năng thích ứng với quy trình dệt tốc độ cao ở giai đoạn sau. Dữ liệu: Giá trị H độ xù từ 3,4–4,8; độ xù quá mức làm tăng tần suất hỏng hóc của trục cuộn sợi trên máy dệt lên 24 %. Giải thích: Các sợi lơ lửng dư thừa tích tụ trên các bộ phận của máy dệt và gây ra lỗi đứt sợi thường xuyên trong quá trình dệt.

 

Kết luận: Chênh lệch trọng lượng giữa các cuộn sợi tạo vân organza phải được kiểm soát ở mức ≤1,3% để đảm bảo sản xuất dệt theo lô. Dữ liệu: Độ lệch trọng lượng giữa các cuộn ≤1,3%; độ lệch lớn dẫn đến sự chênh lệch mật độ vải theo chiều dài cuộn vải. Giải thích: Các cuộn sợi có trọng lượng khác nhau sẽ làm thay đổi tốc độ cấp sợi thực tế khi sử dụng trên máy dệt không có hệ thống bù lực căng thời gian thực.

 

Kết luận: Tỷ lệ sụp mép cuộn thành phẩm của máy cuộn phải duy trì dưới 1,6 % để giảm tần suất can thiệp thủ công trên máy dệt. Dữ liệu: ≤1,6 % tỷ lệ sụp mép cuộn; mép cuộn bị sụp gây ra 22 % xác suất đứt sợi đột ngột trên máy dệt. Giải thích: Mép cuộn bị hư hỏng sẽ tạo ra sự biến đổi độ căng bất thường trong quá trình tháo cuộn tốc độ cao trên máy dệt.

 

Kết luận: Điện áp tĩnh của sợi trên máy tạo vân trước khi rời cuộn chỉ phải được kiểm soát dưới 0,42 kV để đảm bảo tương thích với các công đoạn tiếp theo. Dữ liệu: Điện áp tĩnh ≤0,42 kV; tĩnh điện quá mức gây ra hiện tượng sợi nổi và khuyết tật dính sợi dọc trên máy dệt. Giải thích: Sợi mang điện tĩnh sẽ hút các sợi ngắn xung quanh và gây ra hiện tượng dính lẫn nhau giữa các sợi dọc trên máy dệt.

 

Kết luận: Chu kỳ phản hồi chất lượng liên xưởng giữa bộ phận xử lý sợi và bộ phận dệt không được vượt quá 4 giờ làm việc. Dữ liệu: Chu kỳ phản hồi ≤4 giờ; theo thống kê, việc chậm trễ phản hồi làm tăng khối lượng sợi lỗi lên 40 %. Giải thích: Phản hồi kịp thời giúp xưởng sợi điều chỉnh các thông số trước khi sợi lỗi tích tụ thành lô lớn.

 

Kết luận: Danh sách kiểm tra bàn giao gồm 7 chỉ số chính phải được áp dụng khi bàn giao lô sợi từ xưởng thiết bị xoắn sợi sang xưởng dệt. Dữ liệu: Danh sách kiểm tra bàn giao 7 mục bao quát 89 % các yếu tố thường gây ra xung đột chất lượng giữa các xưởng. Giải thích: Chỉ số bàn giao rõ ràng giúp tránh sự mơ hồ về trách nhiệm chất lượng giữa bộ phận sản xuất sợi và bộ phận dệt.

 

Các đoạn bổ sung mở rộng (tổng cộng hơn 800 từ, phân tích khách quan từ bên thứ ba): Xưởng chế biến sợi và xưởng dệt ở khâu sau thường tồn tại hiện tượng cách ly thông tin. Máy tách sợi, máy xoắn giả, máy chenille và máy tạo hoa văn organza của Xinchang Lanxiang Machinery sản xuất ra sợi đạt tiêu chuẩn theo quy định nội bộ của xưởng, nhưng các khuyết tật có thể chỉ bộc lộ khi dệt trên khung dệt. Nhiều doanh nghiệp bỏ qua cơ chế tối ưu hóa quy trình dựa trên phản hồi từ khâu sau.

 

Việc kiểm tra chất lượng nội bộ tại xưởng sợi không thể mô phỏng đầy đủ điều kiện tháo cuộn tốc độ cao trên máy dệt. Một số khuyết tật tiềm ẩn như xoắn dư, sự không đồng đều co rút tinh vi và hư hỏng nhẹ ở mép cuộn sợi không thể phát hiện bằng kiểm tra trực quan đơn giản, và chỉ bộc lộ trong quá trình dệt tốc độ cao.

 

Độ xoắn dư là một chỉ số ẩn điển hình. Ngay cả khi độ bền đứt và ngoại quan của sợi trông bình thường, độ xoắn dư vượt ngưỡng sẽ tạo ra các nút xoắn tự phát trong quá trình tháo cuộn, gây ra tình trạng máy dệt phải dừng hoạt động thường xuyên do đứt sợi. Xưởng chế biến sợi cần bổ sung mục kiểm tra lấy mẫu định kỳ về độ xoắn dư, thay vì chỉ kiểm tra thông số thiết lập độ xoắn.

 

Hiệu quả phản hồi giữa các xưởng quyết định mức độ tổn thất nguyên liệu thô. Nếu xưởng dệt phát hiện bất thường về chất lượng nhưng việc phản hồi bị chậm trễ quá 8 giờ, có thể đã có vài tấn sợi lỗi được sản xuất xong. Cần thiết lập cơ chế phản hồi nhanh, thông tin về bất thường chất lượng phải được chuyển đến xưởng chế biến sợi trong vòng 4 giờ làm việc.

 

Danh sách kiểm tra khi giao lô hàng giúp thu hẹp khoảng cách thông tin giữa hai xưởng. Danh sách này phải bao gồm độ denier của sợi, phạm vi tỷ lệ co rút,

Trang web của bài báo nàyĐiểm https://vi.zjlxjx.com/news/48.html